Khơi thông tiềm năng du lịch từ ứng dụng thương mại điện tử và cải cách hành chính

Cập nhật ngày: 11/12/2018
        Xem với cỡ chữ    

(ictdanang) – Nhóm tác giả TS. Hoàng Hồng Hiệp, ThS. Vũ Thái Hạnh và Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Việt Quốc, Cao Trí Dũng (hiện đang công tác tại Viện Khoa học xã hội vùng Trung Bộ; Học viện Chính trị khu vực III; Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng và Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng) cho rằng, để phát triển ngành du lịch tương xứng với tiềm năng, Đà Nẵng và Miền Trung nói riêng, cả nước nói chung phải chú trọng đẩy mạnh cải cách hành chính, đặc biệt, tranh thủ những ứng dụng của thương mại điện tử, xem đây là kênh tương tác ”mọi lúc, mọi nơi”, gần gũi và thực sự hữu ích cho khách hàng.

Những chia sẻ trên được đưa ra tại Hội thảo khoa học quốc tế “Phát triển du lịch bền vững các tỉnh miền Trung, Việt Nam” tổ chức tại trường Đại học Duy Tân ngày 8/12 vừa qua.

Ngày 8/12 vừa qua, Đại học Duy Tân đã đăng cai tổ chức  tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế “Phát triển du lịch bền vững các tỉnh miền Trung, Việt Nam”.

-Ảnh: Quốc Bảo.


Hội thảo được tổ chức với mong muốn là diễn đàn mở, huy động được nguồn lực trí tuệ, kinh nghiệm từ các chuyên gia, giảng viên chuyên ngành, giới nghiên cứu và quản lý. Đặc biệt là những lãnh đạo đến từ các Hiệp hội ngành nghề và doanh nghiệp lữ hành, lưu trú, dịch vụ tiêu biểu.

Mục tiêu tựu trung được hội thảo đặt ra là “tìm kiếm và xây dựng hệ thống giải pháp, chính sách góp phần phát triển du lịch bền vững khu vực miền Trung nói riêng và cả nước nói chung”. Hội thảo cũng là dịp để các chuyên gia du lịch trong nước và quốc tế, các doanh nghiệp du lịch, các nhà quản lý du lịch gặp gỡ giao lưu, trao đổi và chia sẻ các ý tưởng mới, tranh thủ được các cơ hội, đánh thức tiềm năng, thúc đẩy phát triển du lịch dịch vụ Việt Nam, trong đó điểm nhấn là miền Trung.

Là vùng đất giàu di tích lịch sử, văn hóa, có nhiều di sản văn hóa của nhân loại còn hiện hữu, miền Trung - Việt Nam có sức thu hút mạnh mẽ du khách. Trong ảnh: Du khách Pháp đến thăm Bảo tàng nghệ thuật điêu khắc Chămpa Đà Nẵng.

-Ảnh: T.Ngọc. 

Ở góc nhìn về tính tương tác giữa sự phát triển của ngành du lịch với nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho ngành, Nhà giáo ưu tú Lê Công Cơ – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đại học Duy Tân cho rằng: "Đến nay, quy mô đào tạo nguồn nhân lực cho ngành Du lịch tại Đại học Duy Tân rất lớn.

Tuy nhiên, thẳng thắn mà nói thì chất lượng đào tạo vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọng của sự phát triển du lịch của thành phố Đà Nẵng, khu vực miền Trung, cũng như của cả nước”.

Chính vì vậy, thông qua diễn đàn của hội thảo lần này, Đại học Duy Tân mong muốn các chuyên gia du lịch trong nước và quốc tế sẽ có những chia sẻ kinh nghiệm, giải pháp hay, hiệu quả trong việc phát triển du lịch khu vực miền Trung – Việt Nam. Từ đó, chính Nhà trường sẽ xác định lại lần nữa nhu cầu, đòi hỏi từ thực tế, để qua đó, có giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy, nâng cao chất lượng đào tạo đối với các chuyên ngành du lịch, dịch vụ của nhà trường.

Cùng chung nhìn nhận, Phó GS-TS Lê Đức Toàn - Phó Hiệu trưởng Đại học Duy Tân, khẳng định: ”Yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực để góp phần phát triển du lịch bền vững và kèm theo là yếu tố cũng rất quan trọng, đó là giải quyết việc làm cho sinh viên, nhiều năm nay đã được nhiều Nhà trường đặc biệt quan tâm. Từ đó, câu chuyện kết nối và hợp tác chặt chẽ, cùng cộng đồng trách nhiệm giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp ngành du lịch, dịch vụ cũng ngày càng trở nên cấp thiết hơn.
    
Ý kiến của doanh nghiệp sử dụng nguồn nhân lực đã giữ vai trò chính yếu, tác động đến các xu hướng xây dựng giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ có hiệu quả hơn. Đại học Duy Tân - Đà Nẵng xem hợp tác giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp du lịch, dịch vụ vừa là xu hướng tất yếu, vừa là giải pháp hiệu quả cho đầu ra của sinh viên chuyên ngành".
 
Và vấn đề “Đào tạo nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế về du lịch” cũng trở thành một chủ đề trọng tâm của hội thảo.

Phó GS-TS Lê Đức Toàn - Phó Hiệu trưởng Đại học Duy Tân  (ngồi giữa) tham gia chủ tọa đoàn hội thảo.

- Ảnh: Quốc Bảo.


Hội thảo khoa học quốc tế “Phát triển du lịch bền vững các tỉnh miền Trung, Việt Nam” đã tập trung thảo luận theo các chủ đề: Phát triển các sản phẩm và loại hình du lịch biển đảo ở Vùng Nam Trung Bộ (hoặc 1 tỉnh); Phát triển các sản phẩm và loại hình du lịch sinh thái ở Vùng Nam Trung Bộ (hoặc 1 tỉnh); Phát triển các sản phẩm và loại hình du lịch văn hóa – lịch sử ở Vùng Nam Trung Bộ (hoặc 1 tỉnh); Thu hút vốn đầu tư vào phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ và vùng Nam Trung Bộ hoặc 1 địa phương cụ thể như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thừa Thiên – Huế v.v.. .

Cùng một số vấn đề khác như: Hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về du lịch; Phát triển các điểm đến du lịch tại các tỉnh miền Trung gắn với nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch; Yếu tố liên kết vùng trong phát triển du lịch bền vững cùng một số nội dung liên quan “sát sườn” khác. Kết thúc các tham luận, báo cáo khoa học, hầu hết các tác giả đều có tham vấn hàm ý đề xuất liên quan đến chính sách và kiến nghị rất thiết thực về giải pháp.

Tham luận của TS Lianping Ren (ảnh trên) và TS Tuan Phong Ly (cả 2 diễn giả đều đến từ Học viện Du lịch Macao).

-Ảnh: Quốc Bảo.



Đừng để du khách thiếu thông tin khi thương mại điện tử đã trở nên phổ dụng rộng rãi


Qua đề tài nghiên cứu ”Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam: Một phân tích thực nghiệm”, TS. Hoàng Hồng Hiệp (Viện Khoa học xã hội vùng Trung Bộ) và ThS. Vũ Thái Hạnh (Học viện Chính trị khu vực III), trong phần kết luận và những hàm ý chính sách, chia sẻ: "Sử dụng phương pháp kinh tế lượng dành cho dữ liệu bảng (panel data), chúng tôi tiến hành ước lượng các nhân tố ảnh hưởng đến cầu du lịch quốc tế đến Việt Nam từ 20 quốc gia trên thế giới, giai đoạn 2010-2016.

Các kết quả kiểm định cho phép chúng tôi chọn phương pháp FGLS để ước lượng các tham số của mô hình. Kết quả ước lượng cho thấy, các đặc trưng của các quốc gia du khách như thu nhập bình quân đầu người, khả năng chi tiêu, năng lực sử dụng internet, quy mô dân số, là những nhân tố có ảnh hưởng ý nghĩa đến lượng khách quốc tế đến Việt Nam.

Du khách tìm kiếm thông tin và các chỉ dẫn qua ứng dụng trên điện thoại

(ảnh chụp trên đường Trần Phú - Đà Nẵng).

-Ảnh: T.Ngọc.

Liên quan đến các nhân tố song phương giữa Việt Nam và quốc gia du khách, chúng tôi tìm thấy rằng, tỷ giá hối đoái, kim ngạch thương mại song phương, khoảng cách địa lý giữa 2 quốc gia, là những nhân tố có ảnh hưởng ý nghĩa đến lượng du khách đến Việt Nam".

Thông qua nghiên cứu của mình, hai tác giả đã đưa ra một số đề nghị nhằm phát triển du lịch của Việt Nam trong thời gian. Theo đó, chính sách marketing thu hút du khách quốc tế đến Việt Nam cần tập trung vào các quốc gia có dân số đông, có mức thu nhập bình quân đầu người cao, có năng lực chi tiêu (mua sắm) hàng hóa và (sử dụng) dịch vụ cao.

Đặc biệt, 2 tác giả nhấn mạnh, cơ quan quản lý nhà nước (chuyên ngành và có liên quan) của Việt Nam, cũng như các công ty du lịch – dịch vụ du lịch (và có liên quan đến lĩnh vực), cần tập trung cải thiện chất lượng các website trong việc cung cấp đầy đủ và đa dạng các thông tin du lịch cần thiết cho du khách quốc tế, nhất là đối với các đối tác ASEAN.

Bên cạnh đó, chính sách thu hút du khách đến từ khu vực ASEAN cũng cần có sự điều chỉnh phù hợp, tận dụng lợi thế về sự gần gũi ở khoảng cách địa lý.

Cộng đồng kinh tế chung của khu vực ASEAN đã hình thành (gần 3 năm qua), do vậy, nên sớm có chính sách miễn thị thực cho công dân ASEAN.

"Chúng tôi cho rằng, chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt không chỉ kích thích xuất khẩu, mà còn góp phần thúc đẩy thu hút khách du lịch đến Việt Nam. Do đó, chính sách xúc tiến thu hút du khách quốc tế đến Việt Nam trong ngắn hạn và trung hạn cần ưu tiên tập trung vào các quốc gia có tỷ giá hối đoái song phương theo hướng có sự mất giá ở mức chỉ tương đối của VND. Chính sách xúc tiến thu hút du khách quốc tế đến Việt Nam cũng cần tập trung hơn vào các quốc gia có kim ngạch thương mại song phương với Việt Nam cao, bởi lẽ du lịch và ngoại thương luôn có mối tương quan đồng biến chặt chẽ” – các tác giả nhấn mạnh thêm.

Vướng khung pháp lý, hành lang kinh tế thông đã lâu nhưng ... du lịch các nước trên hành lang chưa thông
 

Là một sáng kiến được đưa ra vào năm 1998 (tại Hội nghị Bộ trưởng Tiểu vùng Sông Mekong mở rộng lần XIII, diễn ra ở Manila, Philippines), đến cuối năm 2006 thì Hành lang Kinh tế Đông - Tây (East-West Economic Corridor - EWEC) chính thức được thông tuyến.
 
Trải dài với hành trình gần 1.500 km, đi qua 4 quốc gia là Myanmar, Thái Lan, Lào và Việt Nam, EWEC được xem là sáng kiến thúc đẩy phát triển và hội nhập kinh tế giữa 4 quốc gia, trong đó nhấn mạnh đến 3 kết quả lớn (mà hành lang khi thông tuyến sẽ mang lại). Đó là đẩy mạnh hợp tác kinh tế giữa các địa phương của bốn nước dọc theo EWEC; Tạo thuận lợi cho thương mại, đầu tư và phát triển kinh tế; Giảm chi phí vận tải tại các địa phương dọc theo EWEC, giúp cho việc vận chuyển hàng hóa và hành khách đạt hiệu quả cao hơn; cuối cùng là góp phần xóa đói, giảm nghèo tại các địa phương dọc theo EWEC.

Và trong 10 dự án lớn được kỳ vọng lần lượt triển khai trên EWEC, mang lại tác động cả về kinh tế, xã hội lẫn tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thông qua khám phá văn hóa, lịch sử, con người đương đại, đó là du lịch. Tuy nhiên, cho đến nay (12 năm sau khi EWEC thông tuyến), vẫn còn điểm nghẽn, để chưa thể khai thông một hành lang du lịch, ít nhất cho người dân 4 nước Lào, Myanma, Thái Lan và Việt Nam...

Đà Nẵng là cửa ngõ ra Biển Đông của tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây.


“Hành lang Kinh tế Đông Tây vừa có lợi thế trong việc tạo sản phẩm đa dạng, nhưng cũng rất khó khăn khi quy định pháp lý của các nước chưa đồng nhất, đặc biệt là về phương tiện giao thông 4 bánh trở lên. Chẳng hạn Thái lan (tay lái bên phải) khác với 3 quốc gia còn lại (tay lái bên trái). Vì vậy, điều kiện tiên quyết để thúc đẩy du lịch đường bộ trên tuyến phát triển là 4 nước phải thống nhất được khung pháp lý cho người, phương tiện, hàng hóa trên tuyến” – các tác giả Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Việt Quốc (Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng) và Cao Trí Dũng (Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng) lấy một ví dụ như trên trong tham luận “Liên kết phát triển du lịch đường bộ trên EWEC”.

Đề xuất của các tác giả nêu trên hướng đến một điểm nghẽn cần được khai thông, đó là phải tăng cường hơn nữa nhận thức cho giới hoạch định chính sách. Các quốc gia đó phải thấy rõ được tầm quan trọng của chính sách trong thúc đẩy phát triển du lịch trên tuyến EWEC. Từ đó, sẽ tập trung giải quyết nhanh chóng thủ tục nhập xuất cảnh, hạ mức thuế quan, giảm các rào cản thương mại. Những động thái này sẽ giảm chi phí vận chuyển, cải thiện chất lượng dịch vụ, tạo điều kiện để doanh nghiệp mở rộng khả năng tiếp cận thị trường.

Trong đó, các tác giả nhấn mạnh đến cải cánh thủ tục hành chính, hiện đại hóa phương tiện kiểm tra, minh bạch và công khai hóa các chế độ chính sách “của cả 4 nước, quy định thủ tục xuất nhập cảnh theo cáo bước kiểm tra “một cửa một điểm dừng”, thống nhất các khoản thuế và lệ phí theo hướng tinh gọn.

Bởi sự cần thiết đã rõ của tình hình hiện nay chính là phải đồng bộ trong cải cách hành chính ở tất cả các cửa khẩu quốc tế trên tuyến. Xuất nhập cảnh và hải quan là yếu tố then chốt. Ở cửa khẩu cần trang bị thêm nhiều thiết bị hiện đại để nhanh chóng giải quyết thủ tục cho người và phương tiện khi qua cửa khẩu.
 
“Chúng tôi muốn nhấn mạnh đến tính thống nhất phương án “Một cửa một điểm dừng” tại tất cả các cặp cửa khẩu. Theo đó, Chính phủ, các bộ ngành và các cơ quan chức năng tương ứng của 4 nước nên sớm hoàn thiện khung pháp lý, ban hành các văn bản quy định để luật hóa các hoạt động kiểm tra, đảm bảo tính thống nhất, phối hợp và đồng bộ hóa” – các tác giả phân tích thêm.

Lễ hội Tết Lào Bun PiMay (diễn ra vào tháng 4 hàng năm) được tổ chức tại Đà Nẵng (năm 2017).

-Ảnh: T.Ngọc. 


Đà Nẵng luôn được xem là điểm cuối tuyến của EWEC nếu đi từ tây (Myanmar) sang đông. Nhưng Đà Nẵng được nhìn nhận “là cửa ngõ của toàn tuyến EWEC ra Biển Đông”. Nói cách khác, Đà Nẵng sẽ là điểm xuất phát đầu tuyến của hành lang kinh tế này, nếu đi từ đông sang tây.

Đà Nẵng là điểm đến mới nổi trên bản đồ du lịch châu Á và thế giới với nhiều danh hiệu được trao tặng. Tuy nhiên, trong tình hình chung, cũng như các địa phương khác dọc theo hành lang xuyên biên giới 4 lãnh thổ, Đà Nẵng vẫn chưa có kênh du khách đến với mình từ 3 quốc gia còn lại. Nếu có, là con số quá ít ỏi và phải lâu lắm, mới có một chương trình khám phá EWEC, dừng chân ở Đà Nẵng ... Rõ ràng, có những điểm nghẽn cần khai thông mạnh mẽ hơn, bởi không chỉ Đà Nẵng, mà Huế, Hội An cũng sẽ hưởng lợi, nếu hoạt động du lịch nhộn nhịp hơn trên tuyến EWEC.

Đây là vấn đề không mới, bởi đã có nhiều nhìn nhận, đánh giá ở nhiều góc độ, lĩnh vực đối với hiệu quả của EWEC. Tuy nhiên, hội thảo khoa học quốc tế “Phát triển du lịch bền vững các tỉnh miền Trung, Việt Nam” đã khơi lại vấn đề như một nhắc nhở. Nhất là trong bối cảnh Cộng đồng Kinh tế ASEAN đang hướng đến hối thúc các quốc gia thực hiện các cam kết chung như “cải thiện môi trường thương mại hiệu quả, minh bạch, cắt giảm thuế quan, loại bỏ các rào cản thương mại và dịch vụ; áp dụng quy tắc xuất xứ linh hoạt, đơn giản hóa thủ tục hải quan, giảm thiểu chi phí cho các giao dịch thương mại quốc tế, tạo dựng một môi trường kinh doanh cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp” để mỗi quốc gia thành viên tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực.

T.Ngọc

In Quay lại chia sẻ bài viết
Từ khóa:

Các tin khác