Bản sắc Văn hóa truyền thống Việt là nội lực của phát triển

Cập nhật ngày: 11/08/2018
        Xem với cỡ chữ    
Hội thảo đề xuất các giải pháp đẩy nhanh tiến độ phát triển bền vững cho Việt Nam tại Đà Nẵng

(ictdang) - Trong 2 ngày 9 và 10/8 vừa qua, tại Đại học Đà Nẵng đã diễn ra hội thảo quốc tế “Từ khả năng đến Tầm nhìn và Hành động: Chuẩn bị cho giai đoạn tăng trưởng tiếp theo của Việt Nam”. Hội thảo do Đại học California tại Davis (Hoa Kỳ) và Đại học Đà Nẵng phối hợp tổ chức.

Mục tiêu bao trùm của hội thảo nhằm “đề xuất các giải pháp đẩy nhanh tiến độ phát triển cho một Việt Nam thịnh vượng, thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững và toàn diện”.

Đại diện các học giả quốc tế tham dự hội thảo tặng ấn phẩm đến Phó GS.TS Nguyễn Ngọc Vũ - Giám đốc Đại học Đà Nẵng.

-Ảnh trong bài: T.Ngọc - T.T.Nhã.


Cộng đồng học giả toàn cầu luôn dành sự quan tâm đặc biệt về Việt Nam

Được biết, hội thảo nằm trong khuôn khổ “Chương trình Nghiên cứu Việt Nam Mới (NVNSI)” được Đại học California tại Davis (Hoa Kỳ) khởi xướng vào năm 2015.

Các nghiên cứu được ghi nhận là “sự phản hồi trở lại với sự phát triển nhanh chóng của Việt Nam và cách mà mọi người trên thế giới nhìn nhận về sự tăng trưởng này”.

“Chương trình Nghiên cứu Việt Nam Mới” chú trọng về tái thiết nền kinh tế và đổi mới văn hóa của Việt Nam, như điều kiện để dẫn dắt đất nước vượt qua những thách thức (kể cả các hệ quả quá khứ do chiến tranh kéo dài gây nên), tập trung vào các vấn đề thực tế tăng trưởng và chia sẻ những phương cách mà người dân Việt Nam hướng đến tương lai, xây dựng đất nước theo khả năng và phương cách của mỗi người.

3 năm qua, “Chương trình Nghiên cứu Việt Nam Mới” đã thu hút sự quan tam của giới học giả, chuyên gia, các quan chức chính phủ, các nhà hoạt động xã hội, các nghệ sỹ. Tất cả đều thể hiện tình cảm dành cho Việt Nam, nên đã đến với chương trình. Vừa để hiểu biết thêm về một Việt Nam đương đại, vừa chia sẻ quan điểm phát triển và trao đổi kinh nghiệm, đề xuất các giải pháp đa chiều.

Diễn ra tại Đà Nẵng trong 2 ngày 9 và 10/8, hội thảo đã quy tụ 15 học giả, chuyên gia, giảng viên, các nhà sản xuất văn hóa hàng đầu, các nghiên cứu sinh trẻ…đến từ các quốc gia như Campuchia, Đức, Hàn Quốc, Hoa Kỳ và Việt Nam.

Đây cũng là lần đầu tiên, một hội thảo chuyên đề “hiến kế cho sự phát triển của Việt Nam-giúp Việt Nam hướng tới một tương lai rạng rỡ và bền vững”, đã thu hút các tham luận ở nhiều lĩnh vực khác nhau như nghệ thuật, truyền thông, văn hóa, kinh doanh và giáo dục.

Trong 2 ngày làm việc, hội thảo đã thảo luận sâu chung quanh chủ đề trọng tâm là “Khả năng phát triển” (của Việt Nam), với các tham luận đi vào các chủ đề “Truyền thông và Xây dựng hình ảnh”, :Xác định Văn hóa và Bản sắc”, “Môi trường và Phát triển bền vững”, “Xã hội và Thực tiễn Kinh doanh”. Ngày 10/8, trong phiên làm việc cuối cùng, hội thảo ưu tiên tập trung cho các đề xuất về Giáo dục và Cải cách Giáo dục.

Trong bối cảnh Việt Nam sẵn sàng mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tranh thủ các nguồn lực tri thức trừ bên ngoài; “Chương trình Nghiên cứu Việt Nam Mới” do Đại học California tại Davis (Hoa Kỳ) được nhìn nhận sẽ mang đến nhiều ý kiến hữu ích. Những lĩnh vực mà Việt nam đang quan tâm như tác động của biến đổi khí hậu; cơ cấu lại kinh tế nông nghiệp,...lại là những thế mạnh của Đại học California.

Nhà trường hiện đang dẫn đầu ở Hoa Kỳ về lĩnh vực nghiên cứu Nông nghiệp - Sinh thái và Môi trường; riêng về lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng Thú y, Trường đại học này được xếp vị trí thứ nhất trên thế giới. Đại học California còn đứng thứ 9 trong số các trường đại học toàn Hoa Kỳ về số lượng học giả quốc tế.

Những thách thức phát triển của Việt Nam

Nhà nghiên cứu trẻ đến từ Đại học Texas, San Antonio (Hoa Kỳ), hiện đang thực hiện nghiên cứu chuyên ngành Xã hội học tại Đại học Trinity (San Antonio, Hoa Kỳ), bà Hoàng Thúc Nguyên Nhi đã chia sẻ mối quan tâm về sự tác động đã “khá rõ nét” của biến đổi khí hậu ở TP Hồ Chí Minh và Đồng bằng sông Cửu Long.

Từ người dân đến các cơ quan chính quyền nhiều cấp đều thấy được bối cảnh TP Hồ Chí Minh và Đồng bằng sông Cửu Long là những nơi đầu tiên đối mặt với tình trạng xói lở, mực nước biển dâng cao khiến lũ lụt (đến sớm), ngập lụt và xâm nhập mặn vào sâu trong đất liền với tần suất cao hơn, thường xuyên hơn. Trong khi đó, một số nơi khác ở Việt Nam thì lại xảy ra hạn hán.

“Các triệu chứng môi trường này ngày càng dễ dàng nhìn thấy trong cuộc sống hàng ngày của người dân địa phương” – tác giả nhấn mạnh.

Nhưng điều lo nhất, tác giả phân tích thêm, vẫn là Đồng bằng sông Cửu Long - “bát cơm” của Việt Nam, đang phải đối mặt với nhiều mối đe dọa về môi trường do phát triển công nghiệp ở Việt Nam và các nước láng giềng.

Các sáng kiến kinh tế mới ở Trung Quốc và các nước Đông Nam Á khác đòi hỏi một lượng lớn năng lượng và vật liệu.

Do đó, các nước đã xây dựng thêm nhiều đập thủy điện trên sông Mekong và kích thích nhiều hoạt động khai thác cát trái phép hơn. Biến đổi khí hậu đã tác động rõ rệt, song hoạt động đập thủy điện và khai thác cát bất hợp pháp, dù là các hoạt động khác nhau, song chúng tạo ra “những tác động liên hoàn và liên quan” đến môi trường ảnh hưởng bất lợi đến đời sống và sinh kế của người dân Đồng bằng sông Cửu Long.

Tham luận khoa học “Hình dung những vấn đề (tác động) nội tại và bên ngoài quốc gia - nhà nước đối với vấn đề về môi trường trong nghiên cứu điển hình về đồng bằng sông Cửu Long”cũng đã chỉ ra 3 hậu quả của phát triển kinh tế quốc gia, khu vực và toàn cầu đã và đang làm gián đoạn sinh thái ở Đồng bằng sông Cửu Long. Và thực sự nó đã tàn phá môi trường sinh kế của người dân địa phương.

Tác giả cũng nhắc lại như một lưu ý không bao giờ mất tính thời sự: Với 2.000 dặm bờ biển, Việt Nam được cho là quốc gia sẽ nằm trong nhóm “một trong những nước dễ bị tổn thương nhất trên thế giới với các tác động của biến đổi khí hậu và sự nóng lên toàn cầu”. Đây là mối đe dọa nghiêm trọng đối với môi trường của đất nước, an ninh lương thực, và nền kinh tế của Việt Nam.

Bản sắc văn hóa – một nội lực phải được phát huy mạnh mẽ hơn

Trước bối cảnh Việt Nam đang chịu nhiều tác động từ môi trường tự nhiên; các xu thế công nghệ mới, lối sống hiện đại và những thay đổi về nhận thức thẩm mỹ, hành vi ứng xử; tác giả Nguyễn Hồng Quý - Giảng viên, Đại học FPT, nhìn nhận:

Chúng ta đang thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nghĩa là đang tiến hành cuộc chuyển đổi từ nền văn minh nông nghiệp cổ truyền sang nền văn minh công nghiệp hiện đại. Trong quá trình chuyển đổi đó, cố nhiên, một số giá trị đã lỗi thời sẽ phải mất đi, để thay vào đó những giá trị mới.

Tuy nhiên, tác giả cũng khẳng định, bản sắc văn hoá Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu, tiếp thụ tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình.

Nếu “soi rọi”, bản sắc văn hóa là một thể thống nhất các giá trị sống và cách lựa chọn các giá trị sống dựa trên tính cách, tâm lý của một dân tộc hay cộng đồng người,...thì  bản sắc không chỉ giúp định danh loại hình văn hóa, phân biệt cá nhân, dân tộc này với cá nhân dân tộc khác. Mà chính bản sắc văn hóa còn tạo nên một định hướng sống mang tính dân tộc, lịch sử, tạo nên những giá trị nhân văn bền vững, lâu dài.

Từ góc tham chiếu của tác giả, bản sắc văn hóa Việt Nam đã như một một nội lực, cần phải được phát huy mạnh mẽ hơn ngay trong bối cảnh hiện tại.

Các đại biểu Nhật Bản (tham dự một sự kiện tại Đà Nẵng) bày tỏ sự quan tâm đến tiết mục múa truyền thống của
đồng bào Cơtu.  


Bàn thêm câu chuyện “cần phát huy nội lực đó”, TS. Lữ Thị Thanh Lê - Đại học Quốc gia Hà Nội, đã chỉ ra ngay trong tham luận của bà: “Với một nền văn hóa truyền thống phong phú, giàu có, Việt Nam vẫn chưa tận dụng hết những tài nguyên văn hóa của mình để phát triển du lịch”.

Trong nghiên cứu của mình, bà Thanh Lê đã dày công nghiên cứu để đưa ra hiện trạng của du lịch văn hóa ở Việt Nam, bàn về tiềm năng phát triển du lịch thông qua huy động các nét văn hóa địa phương. Các ví dụ được chọn lọc từ thực tiễn ở Hà Nội, một số địa phương. Tác giả cũng tổng hợp một số kinh nghiệm (thành công) từ mô hình khai thác nét đẹp văn hóa bản địa ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc,Thái Lan; qua đó, đề ra một số đề xuất, bảo đảm vừa tạo thêm thu nhập quốc dân thông qua việc phát triển du lịch văn hóa, vừa vẫn bảo tồn văn hóa truyền thống.

Chìa khóa của vấn đề (vừa khai thác – vừa bảo tổn) được tác giả phân tích sâu khi nói về vai trò của cơ quan nhà nước, các công ty du lịch và các cộng đồng địa phương, trong tăng cường chuỗi hoạt động cùng các sản phẩm du lịch cụ thể dựa trên bản sắc văn hóa địa phương. Nếu biết cách huy động văn hóa truyền thống, Việt Nam sẽ phát triển du lịch bền vững.

Lễ hội Quán Thế Âm - Ngũ Hành Sơn - Đà Nẵng nhận được sự đồng hành từ các Ngoại giao đoàn và đông đảo
khách thập phương.

Và để minh chứng thêm cho nội lực của bản sắc văn hóa Việt, bà Vũ Thảo - Nhà thiết kế, nghệ sĩ và doanh nhân sinh thái, đã kể câu chuyện xảy ra Kilomet 109. Ở đây, yếu tố “thời trang bền vững và bản sắc dân tộc”, được sản xuất bởi các bàn tay nghệ nhân, đã chứng minh ưu thế hơn hẳn  sản phẩm may mặc được sản xuất hàng loạt bằng máy móc. Cho dù sản phẩm được tạo ra trực tiếp từ bàn tay con người có giá cả phải chăng hơn.

“Điều khiến một sản phẩm trở nên độc đáo hơn hẳn, trong thế giới thời trang ngày nay, đó chính là câu chuyện đằng sau hàng may mặc. Mỗi loại (trang phục truyền thống được làm ra ở Kilomet 109) đều giống như một tác phẩm nghệ thuật, bởi đó là quá trình chế tác thủ công, sản phẩm hàm chứa tầm nhìn xa trông rộng, độc đáo”- bà Vũ kể.

Bà Vũ Thảo hiện sở hữu một studio ngay tại Hà Nội.

Bà đã trực tiếp làm việc với đội ngũ nghệ nhân địa phương ở mọi công đoạn và cả hai phía sẽ cùng bắt đầu từ không trồng, quay, dệt, nhuộm màu và in vải ở Kilomet 109. Sản phẩm may mặc của bà sử dụng sợi hữu cơ và kỹ thuật nhuộm từ thực vật truyền thống, sau đó là khâu may được khâu bằng tay.

“Tầm nhìn của tôi luôn bao gồm mọi chi tiết của quy trình sản xuất, bắt đầu bằng các vật liệu tự nhiên đi vào hàng may mặc mà tôi thiết kế. Bằng cách đó, tôi đang giúp bảo tồn di sản dệt may phong phú của Việt Nam.

Và thực sự, đây là dòng thời trang cao cấp may sẵn được định nghĩa là “loại mới của thời trang”.

Nó được làm bằng tay, khâu tay, một quá trình nhân tạo rất đúng nghĩa.

Và giá trị của sản phẩm của chúng tôi nằm ở thiết kế nhiều hơn, bởi đó là văn hóa của những người tạo ra chúng. Cái đặc biệt nhất là nhà thiết kế khi làm việc trực tiếp với nghệ nhân địa phương, cả hai phía đều hướng đến bảo vệ môi trường. Một sản phẩm ngay từ khâu đầu tiên đã được chú trọng đến yếu tố môi trường. Điều này rất quan trọng đối với tương lai của chúng ta”- tác giả kết luận.

Giới thiệu dệt Thổ Cẩm Cơtu tại Bảo tàng Mỹ thuật Đà Nẵng.

Thu hẹp khoảng cách, tạo môi trường hưởng thụ và phát triển bình đẳng bằng truyền thông số

Là Nhà nghiên cứu, Giảng viên Học viện Báo chí và Truyền thông, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, TS. Trần Quang Diệu đã đóng góp cho hội thảo một vấn đề khá mới “Vai trò của truyền thông xã hội và mạng xã hội trong truyền thông chính sách cho dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay”.

Trong vài năm gần đây, truyền thông xã hội và mạng xã hội đã ngày càng phát triển và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực. Trong đó phải kể đến khả năng và vai trò đưa thông tin lan tỏa một cách nhanh chóng và cập nhật.

Việt Nam có 54 dân tộc anh em, ngoại trừ dân tộc Kinh chiếm đa số, 53 dân tộc còn lại của Việt Nam đều được coi là dân tộc thiểu số với những khác biệt về văn hóa, tập tục, ngôn ngữ,…; để thu hẹp các khoảng cách, tạo môi trường hưởng thụ và phát triển bình đẳng, TS Trần Quang Diệu cho rằng: Vấn đề truyền thông nói chung và truyền thông chính sách đến đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng, trong bối cảnh mạng xã hội và truyền thông xã hội phát triển như hiện nay, đã đến lúc cần được quan tâm đúng mực hơn.


T.Ngọc - Trần Thanh Nhã

In Quay lại chia sẻ bài viết
Từ khóa:

Các tin khác