Canh tác thông minh: Giải pháp nền tảng phát triển bền vững lúa gạo

Cập nhật ngày: 27/06/2018
        Xem với cỡ chữ    

(ictdanang) – Trong nhiều chủ đề hội thảo diễn ra trong chuỗi sự kiện và hoạt động của kỳ họp Đại hội đồng Quỹ Môi trường toàn cầu lần thứ 6, diễn ra tại Đà Nẵng, Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hiệp quốc (FAO) và Cơ quan môi trường Liên Hợp Quốc đã phối hợp tổ chức bàn tròn “Hợp tác nhiều bên liên quan cho cảnh quan lúa gạo”. Thông điệp chính của hội thảo là “Muốn trồng lúa gạo một cách bền vững, phải xây dựng một nền tảng canh tác thông minh”.

Chính phủ nhiều quốc gia, doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế... luôn quan tâm đến tiêu chuẩn gạo bền vững, khuyến khích nâng cao khả năng trồng, sản xuất và cung ứng lúa gạo; tạo ra nhiều nguồn thu nhập tốt hơn cho người nông dân, lại vừa bảo vệ môi trường sinh thái.

-Ảnh minh họa: Ông Văn Sinh.


Nền tảng canh tác thông minh đó, theo ông David Johnson- Viện Nghiên cứu Lúa quốc tế (IRRI), chính là phát triển đất trồng lúa bền vững phải gồm đóng góp từ công nghệ, quản lý kiến thức, kỹ thuật nuôi trồng thông minh và phải giảm nhẹ khí nhà kính.

Nhiều năm qua, Chính phủ các nước, doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế... đã đưa ra các tiêu chuẩn gạo bền vững để khuyến khích nâng cao khả năng trồng, sản xuất và cung ứng lúa gạo; bên cạnh đó, tạo ra nhiều nguồn thu nhập tốt hơn cho người nông dân, lại vừa bảo vệ môi trường sinh thái.

“Tuy nhiên, hiện nay tất cả đang bị điều khiển bởi nhu cầu tiêu thụ của con người. Chúng ta phải phát triển bằng nông nghiệp không phá rừng để giảm tác hại đối với thiên nhiên, phát triển hệ thống thức ăn bền vững, giảm hóa chất để đáp ứng nhu cầu phát triển của cây trồng, đồng thời đất trồng lúa phải thật sự tốt...” – đến từ Viện Nghiên cứu Lúa quốc tế (IRRI), ông David Johnson chia sẻ.

 Chia sẻ từ Chuyên gia David Johnson- Viện Nghiên cứu Lúa quốc tế (IRRI).

Ảnh: V.Dinh.


Đồng tình với quan điểm này, Cục trưởng Cục trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), ông Nguyễn Hồng Sơn cũng cho rằng “Hiệu quả kinh tế cũng như lợi nhuận mà người dân được hưởng còn thấp so với các lĩnh vực sản xuất khác; hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên như đất, nước... chưa thực sự cao; mặt khác mức độ cải thiện chất lượng môi trường sản xuất, chất lượng hàng hóa sản phẩm để tăng tính cạnh tranh trên thị trường thế giới vẫn chưa nhiều. Trong sản xuất lúa gạo tại Việt Nam còn có không ít dấu hiệu thiếu tính bền vững trong phát triển..”.

Giải pháp cho vấn đề này cần được xem xét trên nhiều mặt, nhưng cơ bản, để phát triển nông nghiệp Việt Nam bền vững, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ưu tiên nhấn mạnh đến 2 kịch bản là tăng trưởng 20% gắn với giảm phát thải 20% khí nhà kính và tái cấu trúc nền sản xuất lúa gạo, với những mục tiêu cơ bản.

“Chúng ta có thể luân canh lúa với các cây trồng khác trên hệ sinh thái đất lúa một cách bền vững hoặc có thể chuyển dịch một số diện tích lúa không hiệu quả sang trồng các loại cây ăn quả lâu năm, cây công nghiệp. Đây cũng là hệ thống canh tác giảm phát thải khí nhà kính nhiều nhất. Như vậy chúng ta giảm bớt canh tác lúa nước theo hướng thiết thực đó là có biện pháp tăng thu nhập cho nhà nông”- ông Nguyễn Hồng Sơn phân tích thêm.

Thực tế, việc sản xuất lúa gạo đã tạo ra nguồn phát thải khí (NH4, CO2) gây hiệu ứng nhà kính. Một kiểm kê phát thải tại Việt Nam từng chỉ ra rằng, trong tổng lượng khí phát thải ở nước ta là 150,9 Tg CO2 (1 Tg = 1 triệu tấn); thì chất thải khí nhà kính khu vực nông nghiệp là 65,09 Tg CO2, chiếm tỷ trọng cao nhất (43,1%) của tổng lượng phát thải khí nhà kính quốc gia.

Trong đó khu vực trồng lúa nước có lượng phát thải lại chiếm tỷ trọng cao nhất (57,5%) của khu vực nông nghiệp. Có một thực tế là hiểu biết của nhà nông dân về sản xuất lúa giảm phát khí thải còn rất hạn chế.

Tổng kết từ Bộ Nông nghiệp-Phát triển nông thôn cho biết: Trong các nguồn phát thải khí nhà kính trong sản xuất nông nghiệp thì việc trồng lúa nước chiếm một tỷ trọng khá lớn, chiếm gần 60%.

Nguồn gây phát thải chủ yếu trong trồng lúa nước truyền thống là do lạm dụng phân hóa học, làm tỷ lệ phân thất thoát cao gây nên sự ô nhiễm đất và phát thải oxit nito (N2O). Việc giữ nước thường xuyên trong ruộng gây phát thải khí metan (CH4). Thói quen  đốt phụ phẩm, rơm rạ sau mỗi vụ thu hoạch diễn ra khắp nơi trên cả nước đã gây phát thải khí carbonic (CO2) vào môi trường.

Bên cạnh đó, chăn nuôi gia súc là một trong các tiểu khu vực sản sinh khí nhà kính chủ yếu của ngành nông nghiệp. Cả nước có hơn 25.000 trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm, các trang trại chăn nuôi gia súc gia cầm đa số hoạt động manh mún, nhỏ lẻ.

Khí nhà kính bao gồm khí CH4 và N2O được phát thải thông qua quá trình tiêu hóa thức ăn, thải phân và lưu giữ chất thải của gia súc. Do nhu cầu phát triển trong tiêu dùng và xuất khẩu, đàn gia súc của Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ, lượng phát thải khí nhà kính của chăn nuôi gia súc cũng tăng nhanh. Trong đó, hơn gần 100 triệu tấn chất thải chăn nuôi được thải ra mỗi năm, nhưng việc xử lý nguồn chất thải này còn quá khiêm tốn. Chính việc xử lý phân chuồng chưa được quản lý, xử lý tốt dẫn tới việc ô nhiễm môi trường và phát sinh các khí nhà kính phát thải ra môi trường.

Tổng các lượng khí CO2, CH4, N2O phát thải ngày càng tăng gây ra hiệu ứng khí nhà kính và đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi khí hậu.

Ảnh: Có một thực tế là hiểu biết của nhà nông dân về sản xuất lúa giảm phát khí thải còn rất hạn chế.

-Ảnh minh họa: Ông Văn Sinh


Hướng đến một nền tảng canh tác thông minh

Để giảm được lượng khí phát thải nhà kính trong sản xuất nông nghiệp, bên cạnh những chiến lược của các cơ quan quản lý, như chủ đề của hội thảo tròn “Hợp tác nhiều bên liên quan cho cảnh quan lúa gạo”, các ý kiến đều khẳng định phải có sự tham gia tích cực của nhà nông trong ứng dụng khoa học vào sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, mạnh dạn thay đổi những thói quen sản xuất truyền thống có hại cho môi trường, dần tiến tới nền sản xuất nông nghiệp bền vững.

Bàn tròn “Hợp tác nhiều bên liên quan cho cảnh quan lúa gạo” tại GEF 6.

-Ảnh: Xuân Lam.

Được biết, từ năm 2000 đến nay, để giảm thiểu phát thải khí nhà kính trong sản xuất lúa ở Việt Nam, nhiều biện pháp canh tác tiên tiến đang và đang tiếp tục được thử nghiệm.

Đó là hệ thống thâm canh lúa (SRI); canh tác lúa theo quy trình “1P5G” kết hợp với quản lý nước “ngập khô xen kẽ” được gọi là “1 phải 6 giảm” (phải là giống xác nhận, giảm lượng giống, giảm bón thừa phân đạm, giảm thuốc bảo vê thực vật, giảm nước tưới, giảm thất thoát sau thu hoạch, giảm phát thải khí nhà kính).

Kỹ thuật tiên tiến cho canh tác lúa giảm lượng khí phát thải này được áp dụng rộng ở Đồng bằng sông Cửu Long – vùng trọng điểm sản xuất lúa gạo của cả nước, nơi hằng năm sản xuất hơn 50% sản lượng lương thực cho cả nước, đóng vai trò quyết định đối với an ninh lương thực quốc gia… Ngoài ra vựa lúa Đồng bằng sông Cửu Long còn cung cấp đến hơn 90% lượng gạo xuất khẩu. Và như chia sẻ của Cục trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), trong khoảng 10 năm trở lại đây, ngành nông nghiệp Việt Nam đã có những thành tựu hết sức rực rỡ, tốc độ tăng trưởng sản lượng 3,7%/năm; trong khi diện tích đất canh tác không tăng...

Từ những bài học kinh nghiệm rất thực tiễn của quốc gia mình, các đại biểu tham gia GEF 6 và diễn đàn tròn “Hợp tác nhiều bên liên quan cho cảnh quan lúa gạo”, đều kỳ vọng nền nông nghiệp lúa gạo trên thế giới từng bước có hướng đi đúng đắn, bền vững trong tương lai gần. Và một hệ thống canh tác thông minh chính là giải pháp cho vấn đề "xây dựng nền tảng phart triển lúa gạo bền vững trên hệ thống cảnh quan, gắn chặt chẽ với các vấn đề quan trọng bao hàm sức khỏe nông dân, thu nhập, giữ gìn sinh thái cho muôn loài”.

V.Dinh – X.Lam – T.Liêm

In Quay lại chia sẻ bài viết
Từ khóa:

Các tin khác