Người học trò xuất sắc của Bác trên quê hương Quảng Đà, kỳ 2

Cập nhật ngày: 18/05/2017
        Xem với cỡ chữ    

(ictdanang)- Trong suốt những năm tháng kháng chiến, ông Hồ Nghinh luôn nói với các cán bộ lãnh đạo từ Khu uỷ, đến Tỉnh ủy rằng: Dân là tình cảm chứa chan, là sức mạnh gang thép. Từ Dân mới có thêm thông tin kiến thức cần có trong cuộc chiến, nhờ Dân mới lộ ra những phương thức tổ chức không sách vở nào quy định. Để khi thì né tránh (bảo toàn lực lượng) khi thì (huy động tổng lực 3 mũi giáp công) sáp vào đối đầu với địch và cuối cùng đi tới thắng lợi.

Xuyên suốt một tư tưởng – nhất quán một hành động: Tất cả đều lo cho Dân !

Địch triển khai dồn dân vào ấp chiến lược, từ trên núi, đêm hôm trên đường tìm vào lại thôn xóm (nghe ngóng xem thử dân mình thế nào), ông vui và cười thành tiếng khi dẫm lên bãi phân trâu, phân bò. Anh em đi cùng có người ngạc nhiên. Ông không giải thích, để rồi sau đó, cùng hiểu ra: Dân mình đã về lại với ruộng vườn. Có Dân có tất cả.

Rồi Ông bảo mọi người đi cùng có thể về lại cứ. Ông sẽ không sao. Giờ có Dân rồi. Ông sẽ vào với Dân và bàn chuyện xây dựng lại cơ sở, …

Nguyên Phó Trưởng Ban Kinh tê TƯ Hồ Nghinh (người đầu tiên từ bên trái sang) trong một lần về thăm quê nhà và gặp mặt thân mật đội ngũ cán bộ TP Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam (từ bên phải ảnh sang: ông Nguyễn Xuân Phúc, lúc đó là Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam, nay là Thủ tướng Chính phủ ; ông Nguyễn Bá Thanh, lúc đó là Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng, sau đó là Bí thư Thành ủy Đà Nẵng, Trưởng Ban Nội chính TƯ, đã qua đời ; ông Nguyễn Đức Hạt, lúc đó là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam, sau đó là Phó Trưởng Ban, Ban Tổ chức TƯ, nay đã nghỉ hưu).   
Có lần đồng bào Cơtu vì bảo vệ cán bộ cách mạng, nổi loạn định “tính sổ” với kẻ thù, tới đâu thì tới. Để tránh địch thẳng tay đàn áp, đồng bào sẽ chịu nhiều thương vong, “Ông Già áo xanh Ba Phước” bày kế “đấu tranh chính trị bất bạo động”. Đồng bào nhận được lời dặn dò của ông (qua cán bộ giao liên), bảo nhau: Bí thư Nghinh, họ Hồ, cũng là họ của Bác Hồ đó thôi. Nghe lời ông cũng như nghe lời Bác Hồ.

Đồng bào chuyển sang đấu tranh chính trị và giành thắng lợi. Kẻ thù từ thế mạnh, chuyển thành kẻ bại trận. Sợ đồng bào rồi sẽ không chịu theo “quốc gia”, mà tin lời Việt Cộng, viên chỉ huy đã tìm cách lấy lòng mỗi người dân Cơtu: tặng đồng bào có mặt hôm đó 1 con rựa, 1 kg muối.      

Nợ Dân suốt 2 cuộc kháng chiến, sau ngày giải phóng, ông Hồ Nghinh đau đáu việc “trả nợ ân tình cho Dân” và ông chọn công trình “Đại thủy nông Phú Ninh”, để hoàn thành ước nguyện của cả đời. Công trình không chỉ cải tạo đất, thay đổi tập quán canh tác của một nửa tỉnh (mỗi năm trồng chỉ một vụ lúa bấp bênh năng suất thấp), mở ra một vùng rộng lớn trên 25.000 ha đất khô hạn, chuyển năng suất thấp thành đồng lúa xanh tươi, năng suất cao, chấm dứt nạn đói giáp hạt triền miên, làm thay đổi cả một vùng khí hậu thay đổi nếp sống, tạp quán cho hàng chục vạn người dân.

Phú Ninh bây giờ không chỉ là một đập chứa nước lớn mà còn là một khu sinh thái, một điểm du lịch hấp dẫn.
 
Nhưng nếu không có nghệ thuật thuyết phục, quyết tâm cao của Nhà lãnh đạo Hồ Nghinh thì chưa chắc công trình được khởi công sớm và hoành tráng như thế. Bởi, khi ông đề xuất xây dựng công trình (rất sớm, ngay sau giải phóng) với kinh phí khá lớn, Trung ương đã “khó để đồng tình” cùng ông. Mặc dù đề xuất của ông là hoàn toàn hợp lòng Dân-Ý Đảng. Song điều dễ hiểu của sự không ủng hộ đó là chiến tranh đã làm kiệt quệ nền kinh tế của cả 2 miền. Song nhờ sự mềm mỏng với những đối sách cụ thể và rất kiển trì của Nhà lãnh đạo Hồ Nghinh, trong những lần gặp gỡ từng cá nhân của ngành Thủy lợi, Ban Kinh tế Trung ương, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước..., và phải mất một thời gian dài để thuyết phục, cuối cùng công trình mới được bắt đầu.

Vừa bước ra khởi cuộc chiến, trên mặt trận mới, ông Hồ Nghinh đã luôn trăn trở, làm sao những người đã chở che cho cách mạng, cho kháng chiến, phải thoát khỏi cảnh "Tối ăn khoai đi ngủ, sáng ăn củ đi làm".

Tư tưởng chỉ đạo dung dị nhưng bền lòng, kiên tâm làm cho bằng được của ông là muốn phát triển nông nghiệp thì thủy lợi phải đi trước một bước. Do đó, con đường duy nhất của Quảng Nam-Đà Nẵng là phải xây dựng “Đại công trình thủy nông Phú Ninh”. Và chỉ với công trình này mới xóa được cảnh nhiều năm bị nắng hạn đói kém, thay vào đó “đời sống người dân mình phải no đủ”. Phú Ninh là công trình thủy lợi lớn thứ 2 của cả nước lúc đó, chỉ sau hồ Dầu Tiếng Tây Ninh. Và nói đến Phú Ninh là phải gắn liền tên tuổi ông Hồ Nghinh. Và tên tuổi đó luôn gắn liền với nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng.

Bởi, như Nhà Nghiên cứu Nguyễn Đình An nhớ lại và kể:  Anh Nghinh luôn nói với chúng tôi rằng , (người cán bộ cách mạng) phải luôn có những ăng-ten siêu nhạy để có thể nắm bắt những tín hiệu nhỏ nhất trong tâm tình, ý chí của những người dân để rồi chăm chút vun xới (...). Có những lúc đứng bên nhau trong chiến hào, chúng tôi nhớ lời anh và thấy dân mình thật lớn lao và luôn tự nhắc đó là nguồn sức mạnh vô tận mà chớ bao giờ, và phải không được một phút nào được xa rời quên lãng. Đó là bài học lớn.

Cho đến bây giờ với tôi, điều lo lắng nhất là làm sao giữ được trọn vẹn cách nhìn đó lối nghĩ đó tâm tình đó như anh Nghinh".

 Bìa tập sách Hồ Nghinh – Một Chiến sỹ, một Con Người (Nhà Xuất bản Đà Nẵng, 2007).

Và để làm được việc “nắm bắt những tín hiệu nhỏ nhất trong tâm tình, ý chí của những người dân”, ông yêu cầu mỗi cán bộ phải sát dân, sát thực tế. Bản thân ông làm gương với việc thường xuyên có những chuyến đi cơ sở (không báo trước, không chuẩn bị cầu kỳ - ngoài vài món lương khô và nước uống). Ông trực tiếp muớn gặp mặt và nghe tiếng nói của người dân, từ đó có sự điều chỉnh, định hình chủ trương, chính sách.

Công trình Đại thủy nông Phú Ninh mà ông là tác giả, thể hiện rõ tâm nguyện “là làm sao để người dân các vùng miền, từ núi cao đến đồng bằng và ven biển của Quảng Nam - Đà Nẵng đều có cuộc sống được cải thiện thực sự chứ không chỉ dừng lại ở các khẩu hiệu (lúc bấy giờ có các câu khẩu hiện rất phổ biến như "lay trời chuyển đất, sắp đặt lại giang sơn", "chuyển chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến tranh vào công cuộc xây dựng hòa bình").

Ông Hồ Nghinh không nói theo kiểu hô khẩu hiệu, mà  luôn xác định rất cụ thể với tập thể lãnh đạo việc làm phải cho Dân, và vì Dân mà phải làm “có đủ cách, miễn sao nói được thì làm được”. Ông  Hoàng Minh Thắng, nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng nhớ lại: “Anh Hồ Nghinh nói nhiệm vụ quan trọng nhất lúc này (sau ngày quê hương giải phóng) là lo cho được cuộc sống của nhân dân. Tất cả đồng bào đã đi theo cách mạng hàng chục năm nay. Chúng ta phải có trách nhiệm lo cho dân cái ăn, cái ở, cái mặc, đi lại, học hành. Nhân dân đi theo cách mạng vì họ tin vào Đảng, vào Bác Hồ. Nay dù khó khăn đến mấy, chúng ta nhất thiết phải lo cho dân có một cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn”.

“Ông già áo xanh” (tên thân mật được đồng bào vùng căn cứ và nhiều cán bộ, anh chị em tham gia phong trào đô thị đặt cho ông Hồ Nghinh), còn lo cho dân theo cách riêng của mình. Việc ông làm sau này được chứng minh là hoàn toàn đúng đắn. Ông không làm theo một chủ trương duy ý chí, cực đoan, để sau này nhìn nhận lại, đó là bài học lớn nhất về “sai lầm khi làm suy kiệt sức dân, phân tán các nguồn lực xã hội”.

Cái riêng của ông khi nghĩ và lo cho dân là sự khôn khéo đến tuyệt vời trong chỉ đạo triển khai phong trào hợp tác nông nghiệp (theo chủ trương chung lúc đó). Cũng như “cách làm rất Hồ Nghinh” trong cải tạo công thương nghiệp, ông đã không để xảy ra những mất mát, không chịu để “tư tưởng chủ quan, duy ý chí và cơ chế tập trung quan liêu bao cấp” dẫn dắt.

Ông dũng cảm đi ngược lại các chỉ đạo từ trên, đối mặt với nhiều chỉ trích, phê phán, thậm chí có thể tự làm mất đi nhiều điều có lợi cho mình. Nhưng ông đã giữ được cái quý giá nhất: LÒNG DÂN.

Từ bên trái ảnh sang: Tổng Bí thư Lê Duẩn; Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam-Đà Nẵng Hồ Nghinh gặp nhau tại Đà Nẵng sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.
Nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng, ông Phan Văn Nghệ đã đúc kết tài năng lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành trong suốt hành trình đi theo Đảng-làm việc cho Dân của ông Hồ Nghinh qua mấy chữ: Nghệ thuật lãnh đạo của Hồ Nghinh được sinh ra từ sâu thẳm tình người.

“Anh Hồ Nghinh thường nói: Đảng với Dân gắn chặt như máu thịt, mình không có Dân như con côi cút không cha mẹ. Anh khẳng định: Xa Dân là xa thực tế chiến trường, dễ chỉ đạo không đúng. Và miệng nói, tay chân làm ngay. Mỗi lần Hội nghị xong là anh mang gói đi thực tế ngay”.

Nơi ông đến, có thể là tiền phương, bom đạn kẻ thù đang chờ sẵn để hủy diệt.

Nơi ông đến, là những xóm thôn còn một vài nhà dân trung kiên còn bám trụ để chở che cán bộ kháng chiến. Địch theo dõi gắt gao và tổ chức mai phục những nơi này ngày lẫn đêm.

Nhưng chữ Dân đã trở thành lực hút, kéo đôi chân và tấm lòng “Ông già áo xanh” về với dân.

“Là con người rất dũng cảm, ông luôn đi sát thực tế chiến trường. Và nhờ vậy, từ thực tế máu lửa của chiến trường luôn khắc nghiệt ấy, ông đưa ra những ý kiến sắc sảo, giúp cho sự lãnh đạo chung của Khu ủy đi sát thực tế” – Nguyên Bí thư Khu ủy 5, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công nhận xét về ông Hồ Nghinh.   
           
Một đời vì Dân, khi ra làm Phó Ban Kinh tế Trung ương, ông tiếp tục làm một việc lớn Vì Dân-Vì Nước, và phân tích đầy sức thuyết phục của Nhà Nghiên cứu Bùi Văn Tiếng, cho biết: Thời điểm Ông góp phần đáng kể vào quá trình đổi mới tư duy của Đảng, chính là lúc ông rời quê nhà ra Hà Nội giữ chức Phó Trưởng ban Kinh tế Trung ương. Người giữ vai trò kiến trúc sư trưởng của công cuộc Đổi mới đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo hồi ấy là ông Trường Chinh, đó là điều đã được lịch sử thừa nhận.

Nhưng ông Phó Trưởng ban Kinh tế Trung ương thân quý của chúng ta, cũng có tác động đáng kể đến quá trình đổi mới tư duy của Ông Tổng Bí thư ngay đêm-trước-của-đổi-mới. Chắc chỉ là nhàn đàm trà dư tửu hậu giữa hai bậc tiền bối cách mạng thôi, chứ không phải họp hành làm việc chính thức gì cả, nhưng những gì ông Hồ Nghinh trao đổi bộc bạch lúc này - bằng tất cả sự trải nghiệm thực tế hơn sáu mươi năm, bằng tâm huyết của một người từng vào sinh ra tử một lòng một dạ trung thành với Đảng với Dân và bằng cả cái chất giọng Quảng Nam hay cãi, có lẽ đã góp phần tạo nên trong ông Trường Chinh một ấn tượng sâu đậm, thậm chí một cú hích tư duy đủ để người hai lần giữ chức Tổng Bí thư có thể từ bỏ những cách nghĩ cách nhìn quen thuộc song đã lỗi thời".

Những năm tháng kháng chiến ác liệt của chiến trường Quảng Đà, các văn bản chỉ đạo, nghị quyết lãnh đạo các phong trào của Tỉnh ủy, đã được gửi đi từ vùng căn cứ địa với người ký là Ba Phước. Địch từng bắt được tài liệu và truy lùng, treo thưởng cho ai chỉ điểm "Ba Phước là ai". Ba Phước là bí danh của ông Hồ Nghinh.

Trong ảnh: Ông Ba Phước (giữa) cùng các cán bộ Tỉnh ủy ở chiến khu.


“Đồng chí Hồ Nghinh – Người lính già quả cảm, người Chính ủy thân yêu, Người Chỉ huy tuyệt vời. Với riêng tôi, một nhân viên rồi một cán bộ từng công tác dưới sự lãnh đạo của đồng chí Hồ Nghinh, tôi chỉ xin nói thêm một ý này ”Có một vị lãnh đạo như Hồ Nghinh là một may mắn, là một hạnh phúc cho Dân” – Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình An, Chủ tịch danh dự Hội Khoa học Lịch sử TP Đà Nẵng nhấn mạnh.

Còn với Phó Bí thư thường trực Thành ủy Võ Công Trí thì “Thực tiễn đất nước đang đòi hỏi phải đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện hơn nữa, phá vỡ cho được những công thức, những bức tường thành ngăn cản sự nghiệp cách mạng của nhân dân. Những lúc này, người ta càng nhớ đến Ông, mong có nhiều Ông Hồ Nghinh hơn nữa”.    

Nhà văn, nhà báo Hồ Duy Lệ (Người tham gia sớm phong trào đấu tranh đô thị Đà Nẵng, nguyên Tổng biên tập báo Quảng Nam) khẳng định: “Lấy tư tưởng bao trùm là làm việc gì cũng phải nghĩ đến Dân, vì Dân; ông Hồ Nghinh luôn nói nên học và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngay cả với chủ nghĩa Mác, ông cho rằng cần cân nhắc học cái gì, vận dụng cái gì cho phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam. Tránh giáo điều, rập khuôn. Suy nghĩ và can đảm của ông Hồ Nghinh có lúc đã không được nghiêm túc xem xét mà con bị “chụp mũ” là “chống lại Đảng”. Và điều này không chỉ không phát huy khả năng, tư duy của chính Ông, mà con làm ảnh hưởng không tốt đến tư tưởng, tình cảm nhiều người”.
  
Lịch sử đã cho thấy, ngày nay, những tư tưởng táo bạo, sáng tạo, mang ý nghĩa mở đường của ông Hồ Nghinh chính là tư tưởng của tiến bộ, của thời đại.

Gấp lại những gì đã đọc, chiêm nghiệm, tôi nhận ra, Người lãnh đạo cao nhất và cả Đảng bộ Quảng Nam-Đà Nẵng, vào thời điểm những năm 1980 đều đã cùng một hướng khi đồng thuận, ủng hộ, để Quảng Nam-Đà Nẵng lúc đó có những chủ trương, quyết sách đi – trước – cả - đêm – trước – của - đổi - mới. Và chính vì thế, Nhà Nghiên cứu Trần Bạch Đằng đã hết lời ghi nhận công lao mở đường này “Hồ Nghinh là sản phẩm của lịch sử hiện đại Việt Nam. Đổi mới thuộc về bản năng con người Quảng Nam-Đà Nẵng, mà Hồ Nghinh là người đại diện”.

T.Ngọc (đọc và trích, giới thiệu)


* Tư liệu, dẫn chứng, minh họa được chúng tôi trích dẫn nguyên tác từ:

Hồ Nghinh – Một đời vì Nước, vì Dân (Hội Khoa học Lịch sử Đà Nẵng chủ biên, Nhà Xuất bản Đà Nẵng ấn hành, tháng 2/2017)
Hồ Nghinh – Một Chiến sỹ, một Con Người (Nhà Xuất bản Đà Nẵng, 2007)
Văn phòng Thành ủy Đà Nẵng qua các thời kỳ 1930-2005 (Văn phòng Thành - Ban Tuyên giáo Thành ủy Đà Nẵng chủ biên, Nhà Xuất bản Đà Nẵng ấn hành, 2005)
Những chân trời khát vọng (Đại học Duy Tân chủ biên, Nhà Xuất bản Trẻ ấn hành, 2015

Hình ảnh sử dụng trong bài do Tiến sỹ Nguyễn Thị Mỹ Hương (
Phó Viện trưởng phụ trách, Viện Nghiên cứu và đào tạo Việt - Anh thuộc Đại học Đà Nẵng), cháu ngoại ông Hồ Nghinh ; Thầy Lê Công Cơ (Nhà giáo ưu tú – Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới, Chủ tịch Hội đồng Quản trị - Hiệu trưởng Đại học Duy Tân); Tiến sỹ Phan Văn Hoàng (Nguyên Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử TP Hồ Chí Minh, Giảng viên chính Đại học Sư phạm- Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh), sưu tầm và gửi cho ICT Đà Nẵng.

Một số hình ảnh khác chúng tôi sưu tập trên Website: Duy Trinh quê tôi (Chủ biên và quản trị Hội đồng hương xã Duy Trinh – huyện Duy Xuyên – tỉnh Quảng Nam http://www.duytrinh.vn/ho-nghinh-1913-2007-nguoi-ghi-dau-son-tren-chang-duong-lich-su-dat-quang). Trang Thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh Quảng Nam, Thị ủy Hội An.

In Quay lại chia sẻ bài viết
Từ khóa: