Người học trò xuất sắc của Bác trên quê hương Quảng Đà, kỳ 1

Cập nhật ngày: 18/05/2017
        Xem với cỡ chữ    

(ictdanang) – Chưa ai nói hay viết “Ông Hồ Nghinh” là Người học trò xuất sắc của Bác Hồ. Có lẽ vì ông chưa có cơ duyên gặp Bác và làm việc bên cạnh Bác nhiều năm. Nhưng đọc những gì trong các tập sách (*), xin được kính cẩn được tặng Ông: Hồ Nghinh là Người học trò xuất sắc của Bác.

Người lãnh đạo phải đứng đầu ngọn sóng, ngọn gió, bất chấp hiểm nguy

Sinh thời ông Ba Phước thường nói: Bất cứ làm việc gì, trước hết cần có cái tâm, cái trí, cái đức và nếu là người lãnh đạo, người quản lý còn cần phải có "cái tầm". Và cái tầm đó được ông thể hiện bằng cách “Người lãnh đạo phải đầu sóng, đầu gió, bất chấp hiểm nguy. Người lãnh đạo phải làm gương, thậm chí làm gương trong hy sinh cho sự nghiệp kháng chiến thắng lợi”.
 
Ông đã nêu cao phẩm chất của Người lãnh đạo, rằng ở bất kỳ ở vị trí nào, cao hay thấp, bối cảnh từng thời kỳ như thế nào, lúc khó khăn, thuận lợi, gian khổ, hòa bình hay chiến tranh phải là tấm gương mẫu mực hơn vạn lần nói suông, kêu gọi.

Cố Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam-Đà Nẵng, ông Hồ Nghinh.
Đầu năm 1965 sau khi Mỹ ồ ạt quân vào Đà Nẵng, tính chất chiến tranh trở nên ác liệt hơn, mức độ bom đạn, phi pháo gấp nhiều lần. Tình hình tư tưởng trong quân đội và nhân dân, trong cán bộ có nhiều diễn biến phức tạp. Các đơn vị bộ đội địa phương và Dân quân du kích đang mò mẫm tìm phương pháp tác chiến.

Lãnh đạo các huyện và các xã đang chờ sự chỉ đạo cụ thể của Thường vụ Tỉnh ủy,Khu ủy, Trung ương cũng theo dõi những phương thức và kinh nghiệm đánh Mỹ đầu tiên của Quảng Đà để phổ biến cho các nơi khác...

Trước tình hình đó, Thường vụ Tỉnh ủy, mà trực tiếp là Bí thư Tỉnh ủy Hồ Nghinh đã chỉ đạo tổ chức các đoàn cán bộ đi về các xã vùng ven, nơi quân Mỹ đang đánh phá ở Hòa Vang để tìm hiểu, nghiên cứu cụ thể về quân Mỹ. Bản thân ông cũng trực tiếp dẫn đầu một đoàn đi về vùng trung Hòa Vang. Một hành động khiến nhiều cán bộ, chiến sỹ e dè (nếu không may ông – người lãnh cao nhất lúc bấy giờ - và đoàn công tác bị phục kích thì sao ?). Nhưng biết tính ông, không ai dám cản ngăn ông.
 
Các đoàn công tác đến địa phương dành thời gian trực tiếp gặp gỡ quần chúng, gặp gỡ du kích để tìm hiểu về đặc điếm của quân Mỹ, khả năng tiếp cận của quần chúng đối với lính Mỹ, cách đánh như thế nào cho có hiệu quả, ít tổn thất v.v...

Sau khi các đoàn đi nghiên cứu về, Bí thư Hồ Nghinh yêu cầu tổng hợp báo cáo phân tích đầy đủ, rút ra được sự khác nhau giữa quân Mỹ và quân ngụy, mặt mạnh là cái gì, mặt yếu là cái gì, những cách đánh mà quân Mỹ thường dùng, cách đối phó của du kích các xã, cách tiếp cận của quần chúng đối với lính Mỹ...

Cuối cùng, Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng đã thống nhất nhiều chủ trương, biện pháp đúng đắn, hợp lý, dấy lên trong toàn quân toàn dân trong tỉnh một cao trào đánh Mỹ, diệt ngụy, với nhiều cách đánh sáng tạo, hình thành những vành đai diệt Mỹ ở Hòa Vang với khẩu hiệu "bám thắt lưng Mỹ mà đánh".

Phong trào đánh Mỹ, đấu tranh với Mỹ được phát động rộng khắp trong toàn tỉnh. Nhiều kinh nghiệm được đúc kết và phổ biến rộng rãi góp phần đánh bại các chiến dịch "Tìm diệt và bình định", "quét và giữ" của Mỹ, đóng góp những bài học quý giá về cách đánh Mỹ, đấu tranh với quân Mỹ cho các tỉnh bạn. Đây là căn cứ quan trọng để Trung ương trao tặng danh hiệu "Quảng Nam trung dũng kiên cường đi đầu diệt Mỹ".

Đến những năm 1969-1972, Quảng Đà tiếp tục là chiến trường bị địch đánh phá hết sức ác liệt. địch xúc tát dân vào khu đồn, dùng xe cày ủi phát quang các vùng giải phóng, tạo ra vùng trắng dân và Mỹ - ngụy cho đây là vùng tự do bắn phá. Chiến trường ác liệt và khó khăn như vậy nhưng ông vẫn dẫn đầu bộ phận tiền phương của Thường vụ và Văn phòng Đặc khu ủy bám sát các vùng đồng bằng, lúc thì ở trong dân, lúc thì ở vùng trắng để theo dõi chỉ đạo phong trào.

Tư tưởng của ông là "những lúc khó khăn cán bộ lãnh đạo phải gương mẫu bám sát cơ sở, bám sát dân để tạo niềm tin cho cán bộ cơ sở và cho dân". Nhiều người khuyên Ông nên về đứng ở căn cứ để chỉ đạo, nhưng ông không nghe. Ông bảo "tình hình ác liệt khó khán, cán bộ lãnh đạo của tỉnh không bám cơ sở thì cán bộ huyện xã, Đảng viên cũng sẽ chạy lên núi hết, phong trào sẽ càng khó khăn hơn".

Con nhớ trước đó, Xuân Mậu Thân 1968, sau khi Tiểu đoàn 1 (R20) nhận lệnh tấn công vào Quân đoàn 1, ông đề nghị Thường vụ Khu ủy cho ông được đứng “bên trong Đà Nẵng” để cùng các đồng chí lãnh đạo khác (đã vào thành phố trước đó), trực tiếp chỉ đạo tấn công và nổi dậy, phối hợp hỗ trợ cho Tiểu đoàn 1, đứa con đầu lòng của tỉnh Quảng Đà.

Và ngay trong giờ G của Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, ông đã cải trang thành một Nghị viên, trong bộ complet sang trọng đi lễ chùa. Ông đã có mặt ngay ở sân chùa Tỉnh Hội (chùa Pháp Lâm) – Tổng hành dinh, Sở chỉ huy tiền phương cuộc nổi dậy - để trực tiếp chỉ huy lực lượng quần chúng vùng lên đập tan xiềng xích với mong ước sẽ “hơn cả hồi 1964 đánh đổ Nguyễn Khánh xé bỏ Hiến chương Vũng Tàu, hơn cả mùa xuân 1966 chống Thiệu - Kỳ làm chủ thành phố 76 ngày”..

Hình ảnh lăn xả của ông, gợi nhớ một chiến sỹ biệt động cảm tử, sẵn sàng chết trong thời khắc quyết định, hơn là một cán bộ lãnh đạo cao cấp của cuộc chiến. Và cái khác thường đó, làm nên “một tính cách, một tố chất mẫu mực mang tên Hồ Nghinh”.

Tuy nhiên, do giờ G thay đổi, các lực lượng đấu tranh của quần chúng và các mũi tấn công quân sự không phối hợp và hỗ trợ cho nhau được, các mục tiêu tấn công không thành, địch tổ chức phản kích, lực lượng nổi dậy của quần chúng và Tiểu đoàn 1 bị thiệt hại nặng. Và ông đắng cay, xót cả ruột gan khi chứng kiến những người tâm phúc của mình được tung vào trận chiến sinh tử này bị bắn trọng thương, bị bắt vứt lên xe.

Kỳ vọng về một lần nổi dậy như triều dâng thác đổ và toàn thắng không thành. Nhưng ông không hề nao núng, hoảng loạn, dù ông biết, địch sẽ càn quét, lùng cho ra quân giải phóng và tiêu diệt ngay tại chỗ …

Ở lại với nội thành, ông đã kịp thời chỉ đạo cho lực lượng bất hợp pháp rút vào bí mật để bảo toàn lực lượng, đẩy mạnh các hoạt động của tự vệ mật, các hoạt động của lực lượng đóng ở vùng ven đế tạo hành lang cho lực lượng bên trong rút ra ngoài. Và ông đã ở lại “bên trong Đà Nẵng” đến gần 1 tháng.

Dường như ông bất chấp sự lùng sục, săn tìm từng dấu vết Việt Cộng (sau “biến cố Mậu Thân”) của quân thù, ông trực tiếp nắm bắt và chỉ đạo giải quyết nhiều việc nhằm ổn định tình hình tư tưởng cán bộ, cơ sở và quần chúng ở bên trong, xây dựng lại cơ sở bí mật mới, đường dây mới, chuyển đổi phương thức hoạt động mới để tiếp tục duy trì phong trào nội thành.

Chính thời gian này đã giúp ông nhận ra được nhiều vấn đề xung quanh việc đánh giá địch-ta, đánh giá thời cơ, tiềm năng cách mạng của quần chúng ở bên trong đế có đối sách thích hợp, sáng tạo trong thòi gian sau đó, từng bưóc hồi phục phong trào và tiếp tục đưa phong trào thành phố đi lên vào những năm sau, chuẩn bị cơ sở, điều kiện cho tổng tấn công và nổi dậy giải phóng Đà Nẵng trong chiến dịch Xuân 1975.

Đọc Hồ Nghinh-Một đời Vì Nước, Vì Dân, chúng ta xúc động trước những dòng viết thấm đẫm tình đồng chí và sự trân trọng ghi nhận của những con người cùng ông đối mặt với cái chết rình rập từng giây.

Mỗi con chữ được gieo trên trang sách, mang theo cả máu, cả hương linh của những ai đã nằm suốt trong những tháng năm ác liệt:

Đồng chí Hồ Nghinh là con người như thế.

Một ông già 60 tuổi, nhỏ con với chiếc gậy lúc trời mưa, đường nông thôn bùn lầy, trơn trợt cùng đồng chí bảo vệ lặn lội bất kỳ nơi đâu, nhất là những năm chiến tranh cục bộ ở chiến trường Quảng Đà. B.52, bom tọa độ, chất độc hóa học, đại bác bầy, trực thăng quần đảo canh gác các đường đi, nhất là cầu Kỳ Lam, Chiêm Sơn... ban đêm thì tàu soi, chỉ cần rủi ro một chút có thể bị thương, mất mạng.

Trong thời kỳ 1967-1968 về sau, muốn ra phía Điện Hòa, Điện Thái phải qua cầu Kỳ Lam. Một chiếc cầu sắt dài 500m bị đánh sập, chỉ gác một cây đường ray xe lửa và cây tre làm chỗ vịn. Trên không trung từ 5 giờ đến 18 giờ luôn có một chiếc tàu hai thân bay lên xuống kiểm soát. Nhiều đồng chí đã hy sinh khi qua cầu.

Nhưng đồng chí Hồ Nghinh vẫn lăn lộn có mặt ở tất cả những nơi đó. Lúc thì cơ quan, trong nhà dân, lúc thì tự đào hầm làm lán trại, núp dưới các rặng tre, bãi bói, bụi chuối, các lùm cây còn sót lại, di chuyển thường xuyên hết nơi này đến nơi khác đề phòng gián điệp và phát hiện của địch. Chỉ đạo kịp thời, đối phó các sự cố bất thường. Cán bộ các cánh công tác phía trước có thể trực tiếp xin ý kiến ngay, trong thời kỳ phương tiện thông tin liên lạc vừa thô sơ và hiếm hoi.

Tất cả công việc chỉ đạo chỉ bằng đôi chân làm nhịp cầu gặp gỡ hoặc phong thơ với dòng chữ ngoằn ngoèo của đồng chí. Đồng chí rất ít ở chiến khu hay hậu cứ, chỉ lúc nào có hội nghị đông người, thòi gian dài mới triệu tập về hậu cứ.

Chính sự hiện diện của đồng chí trên khắp nẻo đường ác liệt của chiến trường, cùng ăn, cùng ở, cùng ngủ, rúc hầm bí mật với anh em là một tấm gương cho tất cả cán bộ, chiến sĩ và niềm thương yêu, quý mến của nhân dân. Đồng chí là người lãnh đạo cao nhất của địa phương, tuy trong hoàn cảnh chiến tranh nhưng bước đi đâu có tiền hô hậu ứng, lặng lẽ như một ông già bình thường được nhân dân bảo vệ, quý mến. Ở điểm này, đồng chí Hồ Nghinh đã trở thành tấm gương mẫu mực của người cán bộ lãnh đạo bằng hành động và việc làm cụ thể để mọi người noi theo.

Bài học đó có thể nhiều người biết, nhưng ít ai làm được kể cả trong thời hòa bình, điều kiện đầy đủ.

 
Ông Hồ Nghinh lúc ở Chiến khu Hòn Tàu (bức ảnh được chọn làm bìa tập sách Hồ Nghinh-Một Đời Vì Nước, Vì Dân.
Phó Bí thư Thành ủy Võ Công Trí trong bài viết “Mong có nhiều ông Hồ Nghinh hơn nữa” đã gửi gắm:

Để nắm được dân, hiểu lòng dân, không có cách nào hơn là “đảng viên phải đi trước”. Trong thời kỳ đạn bom ác liệt, “đi trước” cũng có nghĩa là chấp nhận hy sinh. Người ta bảo Ông dũng cảm, Ông chỉ cười “Không dũng cảm thì răng chừ”. Phong thái của ông là vậy: Giản dị trong từng câu nói, giản dị đến từng hành vi, nhưng cũng từ sự giản dị đó, ánh lên một thứ triết lý thu phục con người.

Phương pháp của ông là phương pháp thực tiễn, lấy thực tiễn định hình các chủ trương.

Phương pháp của ông là phương pháp nêu gương, lấy sự hy sinh của mình làm gương cho mọi người.
    
Ghét bệnh giáo điều, xa lạ kiểu chấp hành rập khuôn

Đồng chí Nguyễn Văn Chi, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam Đà Nẵng trong bài viết “Đồng chí Hồ Nghinh- Nhà lãnh đạo đức độ và tài năng”, đã kể một mẩu chuyện rất thú vị về ông Hồ Nghinh Quảng-Nam-hay-cãi:

"Có lúc đồng chí (tức ông Hồ Nghinh) tâm sự với tôi: "Tại các Hội nghị Trung ương, mình hay cãi, hay tranh luận về những vấn đề hóc búa, gai góc, nhưng cãi để bảo vệ cái đúng, bảo vệ sự thật, để tìm ra chân lý. Giờ giải lao có những đồng chí Trung ương nói vui “Ông là Hồ Ngang chứ không phải là Hồ Nghinh". Cái chất con người đất Quảng thẳng thắn, cương trực là vậy".

Còn trong hồi ức của mình về câu chuyện “ông Hồ Nghinh– Hồ Ngang hay cãi”, đồng chí Ngô Gia Lầu, nguyên Trưởng Tiểu ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, viết "Anh rất ghét chấp hành một cách máy móc rập khuôn, một chiều. Có lẽ vì thế mà ông Trần Bạch Đằng cho là "Hồ Ngang", chứ anh đâu có ngang, có bao giờ cãi lại ai đâu - như người Quảng Nam hay cãi khác" (trích: Hồ Nghinh với công tác giáo dục lý luận chính trị tại chiến trường Quảng Đà).

Ông Hồ Nghinh luôn là con người đầy dũng khí, lại là con người có sức nghĩ, có sức tiếp nhận, rộng mở đối với tất cả tư tưởng mới mẻ, không để cho minh bị kìm hãm bởi một lý thuyết không phù hợp với thực tiễn cuộc sống. Ông nổi tiếng là người hay cãi ở trung ương, ông cãi tuốt bất kể ai, nếu ông thấy có gì căn phải bàn cãi. Ông cãi với cả người lãnh đạo cao nhất của Đảng chung quanh vấn đề kinh tế, về giá trị thặng dư, đến mức đồng chí Lê Duẩn cười bảo: "Vẫn còn cửa cho anh Hồ Nghinh cãi đấy".
Và ông cãi thật (theo hồi ức của đồng chí Trần Bạch Đằng).
Không chỉ cãi trên bình diện lý luận, ông cãi cả trên cách làm…

Sau 1975, có chủ trương cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam để có chủ nghĩa xã hội. Thành phố Đà Nẵng thống kê có 920 hộ nằm trong diện ấy, song nhà lãnh đạo Hồ Nghinh chỉ cho thực hiện có mấy chục hộ, số đông còn lại động viên họ tham gia vào xây dựng xã hội mới.

Nhờ vậy, Đà Nẵng giữ được lực lượng kinh tế tư nhân. Chỉ đạo cho Sở Giao thông không đưa 600 xe vận tải vào diện cải tạo mà đưa vào diện công tư hợp doanh. Chủ trương ấy không chỉ giữ lại được lượng xe hiện có mà còn phát triển thêm, phục vụ hiệu quả cho xây dựng và chiến đấu (đưa quân đi bảo vệ biên giới Tây Nam).

Các Anh chị tham gia phong trào đấu tranh đô thị đến thăm ông Hồ Nghinh (lúc ông đã nghỉ hưu. Trong ảnh ông đứng ở vị trí thứ 4, từ bên phải sang). Người đứng cạnh, bên phải "Ông Ba Phước" là Nhà giáo Lê Công Cơ. 
Hồi ấy Ban cải tạo Trung ương nhiều lần nhắc nhở phải làm theo Trung ương nhưng nhà lãnh đạo địa phương này âm thầm lặng lẽ, bí mật chỉ đạo các cấp thực hiện theo kiểu của mình vì lợi ích và hạnh phúc của giới công thương nghiệp, lực lượng có công đóng góp tài sản cho cách mạng, cho kháng chiến. Nếu cải tạo theo kiểu ấy, không chỉ làm thất bại về kinh tế mà còn thất bại cả lòng tin của họ đối với sự lãnh đạo của Đảng.

Nhớ lại trong những năm chiến tranh, ông cũng không theo “xu thế chung, nhìn nhận, quy kết vội vàng” : Trí thức thành thị là tầng lớp tiểu tư sản, chịu sự giáo dục của chế độ bù nhìn, nên hướng là thân Mỹ, gần Ngụy.

Gạt bỏ tư tưởng đó, ông đã vận động, thu phục và giác ngộ nhiều trí thức, đề rồi họ trở thành người của kháng chiến, người của cách mạng, suốt đời dấn thân vì lý tưởng cọng sản.

Khi anh em trí thức trong phong trào đấu tranh đô thị tìm đường lên chiến khu, trong mừng vui tột đỉnh được gặp Ông và các cán bộ lãnh đạo kháng chiến, anh em thốt lên “Gặp được cách mạng rồi ! Anh em ơi, gặp được cách mạng rồi !”. Ông cười, nhẹ nhàng đáp lại: Cách mạng ta đã gặp nhau chớ. Cách mạng rừng núi được gặp cách mạng đô thị !”.

Và một trong những trí thức đã được ông giác ngộ, đào tạo cũng “đã vào sinh ra tử cùng sự nghiệp kháng chiến, đi cùng sự nghiệp của dân tộc suốt một đời” như Ông” là Nhà giáo ưu tú, Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới, Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Hiệu trưởng Đại học Duy Tân. Trong kháng chiến, với bí danh Lê Phương Thảo, ông Lê Công Cơ từng giữ các chức vụ Thành ủy viên, Bí thư Thành Đoàn Huế, phụ trách phong trào đấu tranh yêu nước của học sinh-sinh viên, trí thức nội thành Huế. Chủ tịch Hội Sinh viên Giải phóng trung Trung bộ. Hòa bình lặp lại ông tiếp tục là Đại biểu Quốc hội, Phó Chủ tịch Ủy ban Mạt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng.

Ông ST, một tri thức, nhân sĩ sống hợp pháp trong thành phố Đà Nẵng, sau khi có dịp gặp ông Hồ Nghinh (ở chiến khu), quay về lại nội thành, đã có lần đã thổ lộ (khi gặp các cán bộ hoạt động mật trong lòng đô thị): "Cách mạng miền Nam có diễm phúc lớn là đã có được những cán bộ lãnh đạo tài tình, dũng cảm, đáng quý như ông Hồ Nghinh, thế nào rồi cách mạng cũng thắng lợi".
Và điều đó đã đúng như vậy.

Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam-Đà Nẵng Hồ Nghinh (người mặc sơ mi trắng đứng giữa) đưa Tổng Bí thư Lê Duẩn (đang thân mật ôm hai tay ông Hồ Nghinh) trong lần về thăm và làm việc với Quảng Nam-Đà Nẵng.   

Là một trí thức luôn đồng hành cùng cách mạng và dân tộc hay một người lãnh đạo luôn lấy thực tiễn làm thước đo chân lý, hình ảnh ông Hồ Nghinh luôn hiện lên đầy trí tuệ và minh triết.

Tuy nhiên ông Hồ Nghinh như nhiều tác giả nhắc đến trong 2 tập sách, còn là một người đầy cảm xúc, sống có tình có nghĩa có thủy có chung, và chính cái phần tình cảm này càng làm cho cái phần lý trí của Ông trở nên... Hồ Nghinh hơn - nghĩa là sâu lắng và sắc sảo hơn.

Trong thực tế, có thể, đã có nhiều đồng chí lãnh đạo sẵn sàng nhường cơm sẻ áo cho bảo vệ, cần vụ của mình, nhưng chắc là không có mấy người ứng xử trân quý đối với trí thức như ông Hồ Nghinh. Vì một lẽ giản đơn: ông là người trí thức chân chính, và khi nói ông là người luôn gắn bó tôn trọng Nhân Dân, thì cũng có nghĩa ông là người luôn gắn bó tôn trọng trí thức.

Nói đến tinh thần chống giáo điều, duy ý chí, rập khuôn theo mệnh lệnh từ trên của ông Hồ Nghinh, không thể không kể đến câu chuyện: Được tin ngày hôm sau là mở đầu cho sự đập phá đô thị cổ Hội An, tối đó, Nhà lãnh đạo Hồ Nghinh đã đến gặp lãnh đạo Hội An và nêu ý kiến của mình. Bằng lời lẽ mềm mỏng, thuyết phục, ông đã chỉ đạo thành công giữ lại một di tích giá trị.

Sau này, phố cổ Hội An được tổ chức UNESCO công nhận là Di sản văn hóa của thế giới, năm 2012, Hội An là phố cổ được người du lịch khắp nơi “chấm chọn” trên các Trang thông tin du lịch nổi tiếng thế giới là “điểm đến phố cổ thích đến nhất”. Là nơi du khách đến nhiều nhất, Phố cổ Hội An thực sự trở thành “Gà đẻ trứng vàng” trong ngành công nghiệp du lịch Quảng Nam và cả miền Trung.

Doanh thu từ du lịch Hội An đóng góp rất lớn cho ngân sách của tỉnh. Nghĩ lại, nếu không có sự ngăn chặn của Bí thư Hồ Nghinh, người ta đã xóa sổ cả một di sản văn hóa nhân loại. Ông đã giữ lại một giá trị có một không hai của đất nước. Và vì hành động này, ông xứng đáng là danh nhân văn hóa, là hiệp sĩ cách mạng.

T.Ngọc (đọc và trích, giới thiệu)


* Tư liệu, dẫn chứng cho bài viết được chúng tôi trích dẫn nguyên tác từ:

- Hồ Nghinh – Một Đời vì Nước, vì Dân (Hội Khoa học Lịch sử Đà Nẵng chủ biên, Nhà Xuất bản Đà Nẵng ấn hành, tháng 2/2017).

- Hồ Nghinh – Một Chiến sỹ, một Con Người (Nhà Xuất bản Đà Nẵng, 2007).

- Văn phòng Thành ủy Đà Nẵng qua các thời kỳ 1930-2005 (Văn phòng Thành - Ban Tuyên giáo Thành ủy Đà Nẵng chủ biên, Nhà Xuất bản Đà Nẵng ấn hành, 2005).

- Những chân trời khát vọng (Đại học Duy Tân chủ biên, Nhà Xuất bản Trẻ ấn hành, 2015

- Hình ảnh sử dụng trong bài do Tiến sỹ Nguyễn Thị Mỹ Hương (Phó Viện trưởng phụ trách, Viện Nghiên cứu và đào tạo Việt - Anh thuộc Đại học Đà Nẵng
), cháu ngoại ông Hồ Nghinh; Thầy Lê Công Cơ (Nhà giáo ưu tú – Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới, Chủ tịch Hội đồng Quản trị - Hiệu trưởng Đại học Duy Tân); Tiến sỹ Phan Văn Hoàng (Nguyên Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử TP Hồ Chí Minh, Giảng viên chính Đại học Sư phạm- Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh), sưu tầm và gửi cho ICT Đà Nẵng.

Một số hình ảnh khác chúng tôi sưu tập trên Website : Duy Trinh quê tôi (Chủ biên và quản trị Hội đồng hương xã Duy Trinh – huyện Duy Xuyên – tỉnh Quảng Nam http://www.duytrinh.vn/ho-nghinh-1913-2007-nguoi-ghi-dau-son-tren-chang-duong-lich-su-dat-quang). Trang Thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh Quảng Nam, Đảng bộ Thị ủy Hội An.

In Quay lại chia sẻ bài viết
Từ khóa: